Home / Thơ Hay / Thơ bất hủ / 10 bài thơ hay nhất của Tố Hữu trong tập thơ ‘Từ ấy’
Loading...

10 bài thơ hay nhất của Tố Hữu trong tập thơ ‘Từ ấy’

blogvanhoc.net – Thơ Tố Hữu: 10 bài thơ hay nhất của Tố Hữu trong tập thơ ‘Từ ấy’. 

 

Đôi nét về nhà thơ Tố Hữu

Nhà thơ Tố Hữu, tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 04 tháng 10 năm 1920, qua đời ngày 09 tháng 12 năm 2002. Tố Hữu quê gốc ở làng Phù Lai, thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế.

Nhắc đến thơ cách mạng Việt Nam, không thể không nhắc tới nhà thơ Tố Hữu. Ông là một tượng đài, một ngôi sao sáng trong giới thi sĩ giai đoạn này. Không chỉ sáng tác thơ, thi hào Tố Hữu cũng được biết đến như một chính trị gia. Ông từng đảm nhận những chức vụ quan trọng như Ủy viên Bộ Chính Trị, Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhà thơ Tố Hữu cũng chính là Phó chủ tịch thứ nhất của Hội đồng Bộ trưởng nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (theo wikipedia)

 

Nguồn gốc bút danh Tố Hữu:

Trước đây, thi hào Tố Hữu đã từng tự giải thích về bút danh của mình. Vào năm 1938, ông tới thăm một người anh ở Lào. Tại đó, ông tình cờ gặp gỡ một cụ đồ gốc Quảng Bình. Chính cụ đồ này đã đặt cho ông bút danh “Tố Hữu” (chữ Hán: 素有). Bút danh này trích từ câu nói của Đỗ Thị “Ngô nhi tố hữu đại chí” (吾兒素有大志). Tố Hữu (素有) có nghĩa là “sẵn có, ám chỉ khí phách tiềm tàng trong mỗi cá nhân”. Nhà thơ đã nhận bút danh này, nhưng ông lại hiểu theo nghĩa là “người bạn trong trắng”. Ý hiểu đó viết bằng chữ Hán là “素友”, khác với tên do cụ đồ đặt ở chữ “hữu”.

 

Đóng góp cho nền văn học nước nhà:

Ở Tố Hữu, chúng ta thấy rõ sự thống nhất đẹp đẽ giữa cuộc đời cách mạng và cuộc đời thơ ca. Không quá khi nói rằng: chặng đường thơ của Tố Hữu chính là chặng đường lịch sử của cả một dân tộc. Tố Hữu được tôn vinh như lá cờ tiên phong của thơ ca cách mạng và kháng chiến.

 

10 bài thơ hay nhất của Tố Hữu trong tập thơ ‘Từ ấy’ (1946)

1. Từ ấy

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim…

Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời

Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm, cù bất cù bơ…

(Tháng 7-1938)

 

2. Hai đứa trẻ

Tôi không dám mời anh đi xa lạ
Tìm đau thương trong xã hội điêu tàn
Kể làm sao cho hết cảnh lầm than
Lúc trái ngược đã tràn đầy tất cả!

Này đây anh một bức tranh gần gũi:
Nó thô sơ? Có lẽ. Nhưng trung thành.
Nó tầm thường? Nhưng chính bởi hồn anh
Chê chán kẻ bị đời vui hắt hủi.

Hai đứa bé cùng chung nhà một tuổi
Cùng ngây thơ, khờ dại, như chim con
Bụi đời dơ chưa vẩn đục hồn non
Cùng trinh tiết như hai tờ giấy mới.

Ồ lạ chửa! Đứa xinh tròn mũm mĩm
Cười trong chăn và nũng nịu nhìn me.
Đứa ngoài sân, trong cát bẩn bò lê
Ghèn nhầy nhụa, ruồi bu trên môi tím!

Đứa chồm chập vồ ôm li sữa trắng
Rồi cau mày: “Nhạt lắm! Em không ăn!”.
Đứa ôm đầu, trước cổng đứng treo chân
Chờ mẹ nó mua về cho củ sắn!

Đứa ngây ngất trong phòng xanh mát rượi
Đây ngựa nga, đây lính thổi kèn Tây.
Đứa kia thèm, giương mắt đứng nhìn ngây
Không dám tới, e đòn roi, tiếng chưởi!

Vẫn chưa hết những cảnh đời đau khổ
Nhưng kể làm chi nữa, bạn lòng ơi!
Hai đứa kia như sống dưới hai trời
Chỉ khác bởi không cùng chung một tổ:

Đứa vui sướng là đứa con nhà chủ
Và đứa buồn, con mụ ở làm thuê.

(Huế, tháng 10-1937)

 

3. Mồ côi

Con chim non rũ cánh
Đi tìm tổ bơ vơ
Quanh nẻo rừng hiu quạnh
Lướt mướt dưới dòng mưa.

Con chim non chiu chít
Lá động khóc tràn trề
Chao ôi buồn da diết
Chim ơi biết đâu về.

Gió lùa mưa rơi rơi
Trên nẻo đường sương lạnh
Đi về đâu em ơi
Phơi thân tàn cô quạnh!

Em sưởi trong bàn tay
Cho lòng băng giá ấm
Lìa cành lá bay bay
Như mảnh đời u thảm!

Con chim non không tổ
Trẻ mồ côi không nhà
Hai đứa cùng đau khổ
Cùng vất vưởng bê tha

Rồi ngày kia rã cánh
Rụi chết bên đường đi…
Thờ ơ con mắt lạnh
Nhìn chúng: “Có hề chi!”.

(Huế, tháng 10-1937)

 

4. Dậy mà đi

Dậy mà đi! Dậy mà đi!
Đừng tiếc nữa, can chi mà tiếc mãi?
Ai chiến thắng mà không hề chiến bại
Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần?
Huống đường đi còn lắm bước gian truân
Đây chưa phải trận sau cùng chiến đấu!
Thì đứng dậy, xoa tay và tự bảo:
Chỉ còn đây sức lực hãy còn đây!
Lòng không nghèo tin tưởng ở tương lai
Chân có ngã thì đứng lên, lại bước.
Thua ván này, ta đem bầy ván khác,
Có can chi, miễn được cuộc sau cùng
Dậy mà đi, hy vọng sẽ thành công
Rút kinh nghiệm ở bao lần thất bại:
Một lần ngã là một lần bớt dại
Để thêm khôn một chút nữa trong người.
Dậy mà đi, hỡi bạn dân nghèo!

(Tháng 5-1941)

 

5. Những người không chết

Anh với tôi giữa bốn tường vôi lạnh
Lặng nhìn nhau, lựa phải nói năng chi!
Anh nghe thu rứt lá gọi đời đi
Tôi thấy cả một mùa xuân bước lại.
Anh là một thuỷ thủ già vững tay lái
Tôi, bên anh là bạn mới cầm chèo
Gần nhau đây mà xa biết bao nhiêu
Giữa hai đứa mênh mông là biển rộng!

Thuyền anh đã bao lần theo ngọn sóng
Trôi điêu linh trên vực mặn không cùng
Cánh buồm xưa kiêu hãnh gạt cuồng phong
Nay tơi tả rủ dòng trên cột lỏng
Và mạn ván miên man theo nhịp sóng
Chiều hôm nay giông tố giạt vô bờ
Chiều hôm nay, trên bãi đá chơ vơ
Tôi đứng ngó thuyền anh trơ xác chết
Ôi trong đó biết bao ngày oanh liệt!

Chết hay không, nhân loại, những linh hồn
Đã từng đau khổ lắm, đã tiêu non
Tất cả máu củn một thời trai trẻ
Để đem lại cho Người ngày mới mè ?
Không! Không! Không! Anh không chết. Trong tôi
Ý đời anh đã nãy lộc đâm chồi
Trong cân não của một loài cơ cực
Anh đương sống với bao nhiêu sinh lực
Của thân cây đương buổi nhựa lên cành!

Kim nam châm đã hướng dẫn đời anh
Tôi sẵn có trong tay từ thuở ấy
Đường đi đó, nhổ sào lên tôi lái
Chiếc thuyền tôi vui lướt giữa muôn thuyền
Nào cần chi biển rộng dẫu bình yên
Hay ghê gớm nổi cồn cao sóng dữ
Tôi cứ lái cho tới ngày mệt lử
Một chiều kia, dù lại cũng như anh
Trở về đây trong mạn ván tan lành
Giữa lúc những thuyền kia lướt tới.

(Mùa thu 1938)

 

6. Đôi bạn

Một đêm tối không mưa mà gió lạnh
Thổi đìu hiu vào những chấn song dày
Tôi nằm rên, đói lắm, đã năm ngày
Đèn đợi tắt. Bỗng bên ngoài lặng lẽ
Có tiếng bước chân ai, dặt dè, nhẹ nhẹ
Rồi âm thầm hiện trước cửa xà lim
Một bóng đen. Người lính gác đi rình?
Tôi nghĩ thế, và làm thinh chỉ ngó.

Cái bóng sẽ nghiêng đầu qua cửa sổ
Rồi kêu vô bằng giọng cổ: “Tường ơi!”
Tiếng quen quen. À phải, bạn đây rồi!
Tôi nhỏm dậy, tới gần se sẽ đáp:
“Bác đấy bác? Tường đây, mai lại gặp
Đêm lạnh rồi, cơ khổ bác mang tơi!”
Cái tơi gà xích lại ngó vào tôi
Rồi nức nở: “Tường ơi! Anh đói lắm?
Tôi chỉ sợ qua đây đà quá chậm
Mất anh rồi, tôi khổ biết bao nhiêu!”

Cả lòng tôi khi ấy rố trăm chiều!
Tôi muốn nói một đôi lời an ủi
Nhưng lại sợ động lòng anh quá vội
Nên nghẹn ngào, chỉ ấp úng: “Bác ơi!
Thôi bác đừng khóc nữa, khổ lòng tôi!”
Người lính sẽ đưa tay, chùi nước mắt
Tôi những tưởng nỗi lòng anh tạm tắt
Nhưng mà không, anh mếu máo: “Tường nầy!
Mới khi mai, cụ sứ tuốt lên đây
Hắn nói rứa: “Chết thì cho manh chiếu!”
Rồi không đợi tôi phân trần anh hiểu
Người bạn già lại nức nở trong tơi…
Biết làm sao ngăn cản được bằng lời
Tiếng khóc của chân tình đau đớn ấy!
Tôi chỉ đợi cơn buồn anh dịu lại
Mới nên lời khuyên giải một vài câu:
“Bác đừng nên khóc nữa, đã chi đâu
Đói chỉ mới dăm ngày, chưa đến liệt
Mà dẫu phải mai đây rồi sức kiệt
Anh em tôi có chết một đôi người
Chết đôi người nhưng để được ngày mai
Quyền lợi cướp giành lui cho kẻ sống
Thì chết đó có chi đâu là uổng?
Dứt đời đi mà vẫn cứ yên lòng!
Đời chúng ta còn lắm nỗi lao lung
Mà muốn sống, phải xông vào cái chết
Phải tranh đấu đến kì cùng, quyết liệt
Còn một giây, còn một chút tàn hơi
Là phải còn tranh đấu mãi không thôi
Lấy xương máu mà chọi cùng sắt lửa!”

Người lính gác đứng im, không khóc nữa
Chỉ nghẹn ngào kể lể với lòng tôi:
“Rồi anh em nếu chết một đôi người
Đau đớn thế, tôi sao cầm nước mắt?”
Tôi chẳng nói, chuồi tay qua cửa sắt
Và ngậm ngùi: “Bác cầm lấy tay cho!”
Cái bàn tay lính riết cái tay tù
Đôi cơ thể tưởng ôi hoà trộn máu.
Với tất cả bao nhiêu tình ngọc báu
Của đôi linh hồn khổ tối hôm nay
Phút đậm đà, tôi sẽ kéo bàn tay
Dày dạn đó, nghe chuyển đầy sức mạnh
Và cúi xuống hôn nồng trong tay lạnh…

Rồi bâng khuâng đôi bạn dưới đêm mờ
Trông lên trời le lói ánh sao sa
Cùng im lặng để nghe lòng chung điệu.

Lao Bảo, tháng 11-1940
(Trong những ngày tuyệt thực)

 

7. Nhớ đồng

Tặng Vịnh

Gì sâu bằng những trưa thương nhớ
Hiu quạnh bên trong một tiếng hò!

Đâu gió cồn thơm đất nhả mùi
Đâu ruồng che mát thở yên vui
Đâu từng ô mạ xanh mơn mởn
Đâu những nương khoai ngọt sắn bùi?

Đâu những đường con bước vạn đời
Xóm nhà tranh thấp ngủ im hơi
Giữa dòng ngày tháng âm u đó
Không đổi, nhưng mà trôi cứ trôi…

Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh
Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi!

Đâu những lưng cong xuống luống cày
Mà bùn hy vọng nức hương ngây
Và đâu hết những bàn tay ấy
Vãi giống tung trời những sớm mai?

Đâu những chiều sương phủ bãi đồng
Lúa mềm xao xác ở ven sông
Vẳng lên trong tiếng xe lùa nước
Một giọng hò đưa hố não nùng

Gì sâu bằng những trưa thương nhớ
Hiu quạnh bên trong một tiếng hò!

Đâu dáng hình quen, đâu cả rồi
Sao mà cách biệt, quá xa xôi
Chao ôi thương nhớ, chao thương nhớ
Ôi mẹ già xa đơn chiếc ơi!

Đâu những hồn thân tự thuở xưa
Những hồn quen dãi gió dầm mưa
Những hồn chất phác hiền như đất
Khoai sắn tình quê rất thiệt thà!

Đâu những ngày xưa, tôi nhớ tôi
Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời
Vơ vẩn theo mãi vòng quanh quẩn
Muốn thoát, than ôi, bước chẳng rời

Rồi một hôm nào, tôi thấy tôi
Nhẹ nhàng như con chim cà lơi
Say hương đồng vui ca hát
Trên chín tầng cao bát ngát trời…

Cho tới chừ đây, tới chừ đây
Tôi mơ qua cửa khám bao ngày
Tôi thu tất cả trong thầm lặng
Như cánh chim buồn nhớ gió mây.

Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh
Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi!

(Tháng 7-1939)

 

8. Con chim của tôi

Nó chết rồi, con chim của tôi
Con chim sẻ sẻ mới ra đời
Hôm qua nó hãy còn bay nhảy
Chỉ một ngày giam, đã chết rồi!

Tôi muốn cô đơn dịu bớt sầu
Nên tôi yêu nó có gì đâu!
Tình thương vô ý gây nên tội
Tôi đã tù, sao bắt nó tù?

Sao nỡ dù trong giây phút thôi
Bắt con chim nhỏ hận câm lời
Sao không trả nó về mây gió
Cho nó say sưa uống ánh trời?

Tôi dẫu dành cơm mớm nó ăn
Đủ làm sao được: thiếu không gian!
Sao tôi không hiểu, sao không hiểu?
Để tội tình chưa, nó chết oan!

(Xà lim số 1, lao Thừa Thiên
Tháng 5-1939)

 

9. Xuân nhân loại

Mấy bữa trời chư ngớt gió sương
Cành xoan chưa phủ lục bên đường
Song lòng ta đã nghe đâu đó
Có một mùa xuân phảng phất hương

Không phải mùa xuân mấy thuở sang
Lá xanh không mát dạ khô vàng
Hoa thơm không át mùi xương máu
Nắng chỉ lây buồn trên áo tang
Đây một mùa xuân tới tới gần
Đây mùa bất tuyệt của muôn xuân
Hương tình nhân loại bay man mác
Gió bốn phương truyền vang ý Dân

Ôi hài âm mạch của nhân gian!
Mỗi giọng thân yêu một tiếng đàn
Coa vút từng không, băng vượt núi
Trường Sơn, Hy-mã-lạp, U-ran

Lâu rồi, khao khát lắm, xuân ơi
Nhân loại vươn lên ánh mặt trời
Nhân loại trườn lên trên biển máu
Đang nghe xuân tới mở môi cười.

(Xuân 1946)

 

10. Vui bất tuyệt

Vui quá đêm nay
Ta nhảy ta bay
Trong lòng Hà Nội
Biển sống trào lên thành đại hội
Muôn màu vũ trụ kết hoa đăng
Xôn xao mặt đất, trăng là trăng
Chảy xiết Ngân Hà, muôn sao vàng rực
Mặt trời đỏ huyền kỳ mọc lên, ôi náo nức
Nhạc nhân gian cuồn cuộn bốc hồng trần!
Ta đi đây, là trăm vạn thiên thần
Chiều chiến thắng phá tan quân quỷ sứ
Ta đi dưới bốn nghìn năm lịch sử
Đêm nay tràn hoa đỏ nhuỵ vàng tươi
Ta đi đây, với thế kỷ hai mươi
Mạch suối trẻ trong dòng người vô địch!
Ta đi tới biết đâu là tuyệt đích?
Người cuốn lôi ta, ta cuốn lôi người
Đi đi hoài, đi mãi, anh em ơi
Đây cuối đất hay đầu trời chẳng biết!
Ta hát suốt đêm nay vui bất tuyệt
Trống rung tim ta đập nhịp bồn chồn
Đầu ta qua lớp lớp khải hoàn môn
Hồn ta chạy sáng ngời trên ngọn đuốc
Lòng ta múa lồng lên theo đám rước
Ta xông lên trời với pháo thăng thiên
Bay bay lên, hỡi đôi cánh thần tiên
Đôi cánh mở của đất trời giải phóng!

(Kỷ niệm 2-9-1946)

 

blogvanhoc.net

10 bài thơ hay nhất của Tố Hữu trong tập thơ ‘Từ ấy’
Rate this post
Loading...
DMCA.com Protection Status