Home / Các Bài Văn Mẫu / Phân tích bài thơ Chiều Tối (Mộ) trong tập Nhật Ký Trong Tù để làm rõ sự hòa hợp độc đáo giữa màu sắc cổ điển và bút pháp hiện đại của thơ Hồ Chí Minh
Loading...

Phân tích bài thơ Chiều Tối (Mộ) trong tập Nhật Ký Trong Tù để làm rõ sự hòa hợp độc đáo giữa màu sắc cổ điển và bút pháp hiện đại của thơ Hồ Chí Minh

ĐỀ BÀI: PHÂN TÍCH BÀI THƠ CHIỀU TỐI (MỘ) TRONG TẬP NHẬT KÝ TRONG TÙ ĐỂ LÀM RÕ SỰ HÒA HỢP ĐỘC ĐÁO GIỮA MÀU SẮC CỔ ĐIỂN VÀ BÚT PHÁP HIỆN ĐẠI CỦA THƠ HỒ CHÍ MINH

Bài làm

Sự hòa quyện giữa màu sắc cổ điển và chất hiện đại chính là nét riêng trong thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và là hơi thở tạo nên sức sống thơ của Người. Bài thơ Chiều tối (Mộ) trong tập thơ “Nhật ký trong tù” chính là tiêu biểu của sự hòa quyện ấy.

Chiều tối (Mộ) là bài thất ngôn tứ tuyệt số 31 trong “Nhật kí trong tù”, ghi lại cảnh xóm núi lúc ngày tàn trên con đường từ Thiên Bảo đến Long Tuyền vào những ngày của tháng 10/1942.

 

1. Màu sắc cổ điển trong Chiều tối (Mộ)

– Màu sắc hiện đại là những yếu tố về thi pháp, nội dung, có ảnh hưởng sâu sắc từ thơ Đường – đó được coi là những mẫu mực trong đề tài, thể loại, bút pháp nghệ thuật và ngôn từ trong thơ.

– Sở dĩ trong Bác có sự “cổ điển” đó là nhờ Bác sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học, ngay từ nhỏ Bác đã được tiếp xúc và trau dồi những kết tinh của văn học phương Đông. Cùng với tâm hồn phong phú, sự am hiểu sâu sắc thơ Đường và rất giởi chữ Hán của Bác, đã thấm nhuần trong cách mà Bác đưa ra ý thơ, tứ thơ.

– Màu sắc cổ điển trong thơ Bác được thể hiện qua:

+ Đề tài: thiên nhiên luôn là cảm hứng bất tận cho thơ ca, tức cảnh sinh tình, tình phác họa nên vần thơ. Các nhà thơ xưa đã có rất nhiều tác phẩm bất hủ về thiên nhiên:

“Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên
Dao khan bộc bố quải tiên xuyên”
(Nắng chiếu Hương Lô sinh ra khói
Xa trông thác treo trước dòng sông)
(Lí Bạch)

“Hương vụ vân hoàn thấp
Thanh huy ngọc tí hàn”
(sương móc đượm mùi hương làm ướt tóc mây)
(Đỗ Phủ)

Ngay cả trong thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng bắt nguồn cảm hứng từ thiên nhiên rất nhiều tác phẩm:

“Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”
(Cảnh khuya)

“Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên
Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên”
(Nguyên tiêu)

+ Thể thơ: thất ngôn tứ tuyệt – thể thơ ra đời từ thời Đường (Trung Quốc), có quy luật nghiêm khắc về luật, vần, niêm và có bố cục rõ ràng. Bác là một nhà thơ am hiểu về thơ Đường nên có rất nhiều bài thơ Bác viết theo thể thơ này – bài “Mộ” là một điển hình nhất.

+ Bút pháp ước lệ: những nét chấm phá “ý tại ngôn ngoại” là nét điển hình trong thơ xưa đã được Bác vận dụng khéo léo – một bức phông lớn cho cảnh chiều được dựng lên:

Quyện điệu quy lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không
(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không)

Chỉ bằng vài nét chấm phá: bầu trời, cánh chim, chòm mây đã llotj tả được cái hồn của cảnh của cảnh chiều nơi rừng núi. Vẻ đẹp tĩnh lặng, mênh mông của trời chiều được tô đậm nhờ sự đối lập giữa cái vô hạn – bầu trời và cái hữu hạn là chòm mây, cánh chim. Mỗi chi tiết của cảnh đều nhuốm màu tâm trạng, cánh chim bay mỏi tìm về tổ, còn ngươi tù thì mệt mỏi sau một ngày đường.

+ Thi liệu: Bác sử dụng nhiều thi liệu quen thuộc trong thơ cổ như cánh chim, chòm mây, cảnh chiều,… Tuy là những hình ảnh quen thuộc nhưng khi đi qua ngòi bút của Bác lại mang những nét đặc sắc riêng. Cánh chim trong thơ Bác lẻ loi bay về tìm chốn ngủ, tuy có nơi đi chốn về nhưng lại gợi phận chim nhỏ bé, mong manh giữa muôn trùng núi non. Bóng chim chập chờn rồi mất hút giữa tàn cây lúc xế chiều, cảnh ấy lại gợi nỗi xót xa nhớ nhà của một người xa xứ. Nhiều thi sĩ xưa cũng đã lấy hình ảnh cánh chim để bày tỏ:

“Nghìn non chim hết vẫy vùng
Vắng tanh muôn nẻo tuyệt không dấu người”
(Liễu Tông Nguyên)

Trong Chiều tối (Mộ) hình ảnh cánh chim được đặt trong tương quan hình ảnh bầu trời chiều và chòm mây. Chòm mây với vẻ “lững thững”, nhẹ nhàng và thong dong, cũng giống tâm trạng của Bác khi ấy, cũng ung dung tự tại từ trong tâm, dù thân thể thì đang bị giam cầm và đầy ải.

Thời gian trong thơ Bác là buổi chiều tà – khoảng thời gian đong đầy tâm trạng nhất mà khi xưa các nhà thơ như Bà HuyệnThanh Quan, Đỗ Phủ, Lí Bạch cũng đã từ giãi bày tâm trạng mình lúc xế chiều:

+ Ngôn từ “đắt”: hai từ “cô vân” và “mạn mạn” mang ý nghĩa vô cùng hàm súc. Ngay bản dịch của Nam Trân cũng chưa diễn tả hết ngụ ý của ngôn từ đó, cánh chim trong thơ Bác không bay đi hết, chỉ chuyển từ trạng thái bay sang nghỉ ngơi để rồi lại tiếp tục hành trình tìm kiếm sự sống của mình. Cũng giống như con đường cách mạng dân tộc ta mà Bác luôn trăn trở, tuy có đang khó khăn, trắc trở nhưng vẫn luôn lạc quan và tiếp tục xây dựng phát triển để giành phần thắng trong cuộc kháng chiến.

Từ “hồng” trong câu thơ “Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng” là điểm sáng và linh hồn cho cả bài thơ. Sắc hồng của lò than xua tan đi bóng đêm và sự lạnh lẽo của núi rừng lúc chiều tối, tỏa hơi ấm ra xung quanh, nhân lên niềm vui, niềm lạc quan cho con người. Ngôn từ đắt giá làm nên chất trong màu sắc cổ điển – ý tại ngôn ngoại.

 

2. Chất hiện đại trong Chiều tối (Mộ)

– Bài thơ Chiều tối (Mộ) đặc sắc là ở chỗ không chỉ có riêng màu cổ điển, mà còn được thổi hồn bằng chất hiện đại riêng có của Bác.

– Bác là người có trí tuệ lớn, lại được tiếp xúc với nhiều nền văn hóa đặc sắc, cùng với đó là tâm hồn phóng khoáng, lý tưởng cách mạng lớn lao nên trong thơ của Bác mang nét hiện đại về sự xuất hiện của con người, về sự chuyển động của vạn vật, và về những khát vọng cháy bỏng từ ý thơ của Bác:

“ Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”
(Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã ửng hồng)

Thơ của Bác đặc biệt hơn thơ xưa ở chỗ – vạn vật trong thơ không tĩnh mà luôn động, “động” là vận động, là biến chuyển, là mang ý tứ tâm tư của con người.

Đằng sau bức tranh phong cảnh mà Bác khắc họa từ hai câu thơ đầu lại là một phong thái ung dung của một con người khao khát tự do, làm chủ mình, làm chủ hoàn cảnh trong mọi tình huống. Đây cũng chính là chất hiện đại được hòa hợp cùng với màu sắc cổ điển trong thơ Bác.

Nhà thơ đã dùng nghệ thuật “vẽ mây nẩy trăng”, lấy ánh sáng của lò than để nói về bóng tối của không gian vùng sơn cước lúc bóng tối đã bao trùm. Trời không tối, làm sao thấy được “lô dĩ hồng” – hình ảnh thơ vừa bình dị lại sáng tạo mới mẻ, chính sắc hồng đó đã lan tỏa xua đi bóng tối, nhân lên niềm vui và sự lạc quan cho con người, mài sắc thêm ý chí quyết tâm của người chiến sĩ cách mạng đang trong cảnh tù đày. Hình tượng thơ luôn có sự vận động hướng về ánh sáng và tương lai. Sự vận động phong phú trong bài thơ, từ cánh chim, chòm mây, con người, cho đến thời gian không gian như ngụ ý với hi vọng rằng, thời cuộc của cách mạng và đất nước ta rồi cũng sẽ được biến chuyển lạc quan như vậy.

Như vậy, chỉ với bốn câu thơ thất ngôn trong bài thơ “Mộ”, nhưng sự cô đọng, hàm súc trong ý thơ và độ sâu của mạch cảm xúc là những gì mà bài thơ đã để lại trong lòng độc giả. Đó chính là nhờ sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc cổ điển và chất hiện đại, và cũng tạo nên phong cách thơ vừa truyền thống lại mới mẻ của Người.

Blogvanhoc.net

 

>> XEM THÊM: Nêu những nét chính về quan điểm sáng tác văn học nghệ thuật của Hồ Chí Minh. Quan điểm đó đã giúp anh (chị) hiểu sâu sắc thêm văn thơ của Người như thế nào?

Rate this post
Loading...
DMCA.com Protection Status